CƠ QUAN ĐẢNG ỦY KHỐI CƠ SỞ BỘ XÂY DỰNG
Đảng Uý Khối Bộ Xây Dựng
| CƠ QUAN ĐẢNG ỦY KHỐI CƠ SỞ BỘ XÂY DỰNG »

“QUYẾT ĐỊNH KHÓ KHĂN NHẤT” CỦA ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP

e86f7f28184dfd13a45cMột sáng đầu hạ, tại số 30 đường Hoàng Diệu, Hà Nội, chúng tôi đã được anh Võ Điện Biên, người con Trai trưởng của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp đón tiếp nồng hậu.

Trước mắt chúng tôi là ngôi nhà cũ nằm dưới hàng cây rợp bóng mát, những bức tường vàng rêu phong cùng lớp bụi thời gian, bàn thờ vị Tướng của được đặt trang trọng giữa phòng khách lớn, mọi thứ xung quanh thật giản đơn, nhưng thể hiện là cả sự tôn kính, nhớ ơn của Nhân dân cả nước. Trong chiếc bình được đặt phía bên phải bàn thờ là nắm đất do đoàn Cựu Chiến binh Sư đoàn 356 và các đơn vị đã chiến đấu ở mặt trận Vị Xuyên, Hà Giang kính dâng, bên trái là bình đất linh thiêng của quân dân đảo Trường Sa kính tặng. Bức chân dung Đại tướng do họa sĩ Nguyễn Minh ghép tứ 8.800 bức ảnh tư liệu về Đại tướng được gia đình treo trang trọng tại phòng thờ.

e86f7f28184dfd13a45c

Thắp nén nhang tưởng nhớ “Cây đại thụ rợp bóng nhân văn”, chúng tôi luôn thầm biết ơn người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tên tuổi của người gắn liền với hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của dân tộc. Đặc biệt là chiến thắng Điện Biên Phủ, ghi một mốc son chói lọi trong lịch sử giữ nước của dân tộc Việt Nam “Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.

Ngược dòng quá khứ, vào cuối năm 1953 đầu năm 1954, khi bắt đầu triển khai Kế hoạch Na-va, phát hiện sự di chuyển của quân ta lên hướng Tây Bắc, tướng Henri Navarre đã quyết định tăng cường lực lượng và xây dựng Điện Biện Phủ thành tập đoàn cứ điểm mạnh. Theo đánh giá giới quân sự Pháp và Mỹ thì Điện Biên Phủ ở vị trí chiến lược quan trọng chẳng những đối với chiến trường Đông Dương mà còn đối với miền Đông Nam Á. Một trục giao thông nối liền các miền biên giới Lào, Thái Lan, Miến Điện và Trung Quốc. Nó như “cái bàn xoay” có thể xoay đi bốn phía Việt Nam, Lào, Miến Điện, Trung Quốc; đồng thời là “cái chìa khóa” để bảo vệ Thượng Lào, từ đó đánh chiếm lại các vùng đã mất. Bởi vậy, thực dân Pháp đã điều động và bố trí lực lượng ở Điện Biên Phủ lúc cao nhất lên đến 16.200 quân cùng nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh, tại 49 cứ điểm với 3 phân khu: Phân khu Bắc, Phân khu Nam và Phân khu Trung tâm.

Trước sự tăng cường, bố trí lực lượng, trận địa của địch đã thay đổi tại trận địa Điện Biên Phủ, được Bác Hồ và Bộ Chính trị trao toàn quyền quyết định mọi vấn đề, vị Chỉ huy trưởng Võ Nguyên Giáp đã quyết định chuyển đổi phương châm chỉ đạo từ “đánh nhanh thắng nhanh” sang “đánh chắc thắng chắc”. Đây là một quyết định khó khăn nhất, nhưng là một chủ trương kịp thời, chính xác phù hợp với thực tế toàn chiến trường và tình hình cụ thể của thế trận Điện Biên Phủ.

Trải qua 3 đợt tiến công (từ ngày 13/03/1954 đến ngày 07/05/1954), 56 ngày đêm chiến đấu kiên cường và anh dũng trong điều kiện, tinh thần quyết tâm “khoét núi ngủ hầm mưa dầm cơm vắt, máu trộn bùn non, gan không núng, chí không mòn…”, quân và dân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 16.200 sinh lực địch, thu toàn bộ vũ khí, trang bị quân sự, bắn rơi nhiều máy bay; xóa sổ hoàn toàn tập đoàn cứ điểm quân sự mạnh nhất Đông Dương của Quân đội Pháp. Đến 17 giờ 30 phút ngày 07 tháng 05 năm 1954, Đờ Cát-xtơ-ri cùng toàn bộ Bộ tham mưu Tập đoàn cứ điểm bị bắt sống, chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng.

Chiến thắng vang dội của chiến dịch Điện Biên Phủ là thắng lợi vĩ đại của Nhân dân ta và cũng là thắng lợi chung của tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới; tạo ra bước ngoặt lịch sử làm thay đổi hẳn cục diện chiến tranh, kết thúc 9 năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954); buộc thực dân Pháp phải ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương, đặt dấu chấm hết cho sự có mặt của người Pháp ở Việt Nam sau hơn 80 năm.

Đây là cơ sở quan trọng để toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta vững tin dám đánh, quyết đánh và đánh thắng Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

1c9d1c3a7b5f9e01c74e

Đại Tướng Võ Nguyên Giáp (25 tháng 8 năm 19114 tháng 10 năm 2013), là một nhà chỉ huy quân sự và chính trị gia Việt Nam. Ông là Đại tướng đầu tiên, Tổng Tư lệnh của Quân đội Nhân dân Việt Nam, cũng là người chỉ huy đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam, là một trong những người góp công thành lập Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, được Chính phủ Việt Nam đánh giá là "người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh", là chỉ huy chính trong các chiến dịch và chiến thắng chính trong Chiến tranh Đông Dương (1946–1954) đánh đuổi Thực dân Pháp, Chiến tranh Việt Nam (1960–1975) đánh đuổi quân Mỹ, thống nhất đất nước và Chiến tranh biên giới Việt – Trung (1979) chống quân Trung Quốc tấn công biên giới phía Bắc.

Xuất thân là một giáo viên dạy lịch sử, Đại tướng trở thành người được đánh giá là một trong những nhà lãnh đạo quân sự lỗi lạc trong lịch sử Việt Nam, là một trong những vị tướng tài giỏi trên thế giới với mệnh lệnh nổi tiếng: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa; táo bạo, táo bạo hơn nữa; tranh thủ từng phút, từng giờ; xốc tới mặt trận; giải phóng miền Nam; quyết chiến và toàn thắng!” trong Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp là người đầu tiên được tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh và cho tới nay là người duy nhất 2 lần được tặng thưởng Huân chương này (lần thứ nhất năm 1950 và lần thứ hai năm 1979).

Đại tướng Võ Nguyên Giáp là con người toàn diện, một trí thức yêu nước, hội tụ đầy đủ truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam, phát huy, phát triển thành nhà quân sự đại tài, nhà văn hóa lớn. Ở Đại Tướng có 3 đức tính toàn vẹn. Nhân (yêu nhân dân, nhân hậu), Trí (trí tuệ, sáng suốt trong các quyết định, mệnh lệnh trọng đại), Dũng (cử chỉ, hành động anh hùng).

Đại Tướng có đời sống tinh thần dồi dào: đọc sách nhiều, tư duy sắc xảo, yêu chuộng nghệ thuật, vì vậy đã huy động được nhiều trí thức, nghệ sĩ theo kháng chiến và nhận được lòng yêu quý của văn nghệ sĩ, báo giới trong nước và quốc tế nhiều thế hệ.

Tiếp chúng tôi tại phòng đã từng là nơi Đại Tướng đón tiếp các đoàn khách trong và ngoài nước khi còn sống, anh Võ Điện Biên xúc động kể cho chúng tôi nghe từng câu chuyện về những bức trướng treo kín tường, đấy là tình cảm của đồng bào, chiến sĩ cả nước đối với Đại Tướng mà không một ai khác có được. Có bức trướng lớn viết bằng tay đúng 1.000 chữ Thọ cổ. Có bức trướng vàng rực, thêu chữ hồng toàn bộ bài thơ 16 câu của Hội Nông dân Việt Nam dâng Đại tướng. Học sinh Trường Thăng Long trước Cách mạng Tháng 8 năm 1945 mừng Đại thọ 80: “Người Thầy tiêu biểu của trường Thăng Long, Người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh”, còn bức trướng của Ban liên lạc truyền thống bộ đội Trường Sơn thì ghi: “Mừng Anh tuổi 90, tâm hồn luôn sáng tươi, qua biết bao ghềnh thác, nhân cách một đời người”.

Rời ngôi nhà cổ kính, từng in đậm dấu chân vị Đại tướng dân tộc “Võ công truyền quốc sử/ Văn đức quán nhân tâm” (1), lòng tôi vẫn bồi hồi không tả, một niềm kính yêu, tiếc thương một vị Đại tướng suốt đời vị Tổ quốc, vì Nhân dân.

 Nguyễn Thị Thanh Phúc

 (1)  Nhà giáo, nhà văn hóa tên tuổi, Anh hùng Lao động, Giáo sư Vũ Khiêu tặng câu đối này vào dịp Đại tướng tròn 80 tuổi.